khach san trong khach san Chuyện làng nước

Trâu ơi, ta bảo trâu này

Thứ tư, 23/01/2008
 


Atks.vn - "Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy ai mà quản công

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn"

Truyền thuyết kể rằng, một mùa xuân nào đó, cậu bé Đinh Bộ Lĩnh vì không có cha nên phải ở chăn trâu cho chú, cậu đã bẻ bông lau làm cờ chơi đánh trận rồi mổ luôn con trâu để khao quân. Chú hỏi, cậu chỉ vào cái đuôi trâu mà cậu đã cắm xuống lỗ nẻ và bảo trâu chui xuống đấy. Người chú biết là bị lừa, đuổi theo định đánh, nhưng khi đến bờ sông (có lẽ là sông Hoàng Long?) có con rồng hiện lên cõng cậu qua sông, người chú sụp xuống lạy. Như vậy con trâu là bạn của người đã trên ngàn năm trước, nó đã được thuần hóa thành bạn giúp con người.

Một huyền thoại khác ở Ấn Độ, tiền kiếp của trâu là một vị thần trên thượng giới. Vị thần này được lệnh của trời xuống trần gian gieo các hạt giống ngũ cốc để con người có cái ăn và cả một ít hạt giống cỏ để nuôi súc vật. Rủi thay, thần vì quá chén lúc chia tay nên đã… “xỉn” khi xuống phàm, và vì thế thay vì gieo hạt ngũ cốc trước thì  chàng ta lại gieo toàn hạt cỏ. Chừng nhớ ra thì cỏ đã mọc tràn lan khắp nơi, thần vội vàng gieo ngũ cốc, nhưng đã quá trễ, thóc kê không sao trỗi dậy nổi vì cỏ dại um tùm nên con người lâm vào cảnh đói ăn, than khóc thấu tới trời. Trời bèn đày thần xuống trần gian, mang kiếp trâu để muôn đời chịu cực khổ là kéo cày, kéo bừa để con người trồng ngũ cốc và trâu chỉ được ăn cỏ để diệt cỏ.

 

Việt Nam vốn là nước nông nghiệp gắn liền với hình ảnh “Con trâu đi trước, cái cày theo sau”. Làm nông nghiệp, nhất là làm lúa nước như ở nước ta thì khâu làm đất cực nhọc nhất. Chính con trâu đã giơ vai ra gánh vác việc cực nhọc ấy cho con người. Con trâu là đầu cơ nghiệp. Người ta vui với cái vui trong yên ổn “Rủ nhau đi cấy đi cày”. Sự lo âu nếu có, cũng thầm lặng mênh mông như khung trời bao la thoảng hương đồng gió nội. Hình ảnh em bé ngồi trên lưng trâu thổi sáo buổi hoàng hôn ở thôn quê là hình ảnh có từ bao đời, mang ý nghĩa thanh bình, êm ả: “Gõ sừng mục tử lại cô thôn”, nhưng đó không còn là hình ảnh mơ ước của nhiều người trong thời đại ngày nay nữa. Cũng hôm nay, hiếm người thấy được hình ảnh quen thuộc của những con trâu sau một ngày gặm cỏ ngoài bãi, ngoài rừng, thong thả về chuồng, đánh cái sừng kềnh càng lịch kịch vào cái then ngang. Cũng quen thuộc là con trâu nằm bên bụi tre đầu xóm, chân sau choãi ra, gối trước co lại, bỏm bẻm nhai lại, nghĩ ngợi điều gì không ai hiểu được.

Có không ít bài văn, bài thơ rất hay nói về con trâu, tiêu biểu nhất là bài ca dao nói về tình cảm gắn bó giữa con người với con trâu mà hầu như  các thế hệ người Việt Nam ai cũng thuộc:

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy ai mà quản công

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Hình ảnh con trâu đã in đậm vào tâm khảm của dân tộc ta từ khi dựng nước. Bà Ỷ Lan khi thay chồng nhiếp chính đã ra lệnh không ai được giết trâu vì nó là sức kéo vô giá, là bạn trung thành, giúp việc đắc lực cho người dân thời đó.

Mong sao con trâu nghe được lời cảm ơn của con người và nó cứ vừa nhai lại không mệt mỏi, lại vừa ngẫm suy và thanh thản đồng hành mãi mãi với người nông dân trên đồng trên bãi.

Ở nước ta có nhiều chợ phiên bán trâu bò, nhiều cuộc thi chọi trâu. Cho nên con trâu còn là biểu tượng của hội làng truyền thống theo chủ đề luyện quân đánh giặc mà tục “chọi trâu” ở Đồ Sơn (Hải Phòng) cũng như tục “đâm trâu” của các dân tộc Tây Nguyên là tiêu biểu. Những con trâu trong các lễ hội này, sau đó đều bị xẻ thịt chia hoặc bán cho dân làng ăn để lấy may.

Ở vùng Bưởi (Hà Nội), một vùng đất cổ ngày xưa có sông Tô Lịch chảy qua, nổi tiếng có gấm Nghĩa Đô, lĩnh lụa Trích Sài, giấy gió làng Yên Thái. Theo các cụ già kể lại, vùng Bưởi ngày xưa còn có một chợ phiên bán trâu bò mở vào ngày 19 tháng Chạp hằng năm. Chợ họp trên đường thành, góc ngã tư đường Hoàng Hoa Thám bây giờ. Trâu bò thường ở Xuân La, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, Đông Ngạc dắt tới; từ mạn Thanh Hóa, Nghệ An do các lái buôn đem về. Người từ các làng xã chung quanh đến đây mua trâu cho đến cuối ngày 30 Tết để mổ thịt. Vài ba nhà chung một con trâu. Khi giết trâu làm thịt chia nhau vui như hội, rậm rịch từ sớm đến chiều. Thật là “vui như mổ trâu”. Ngày Tết, ăn thịt heo, thịt gà là bình thường, hầu như nhà nào cũng sẵn. Có miếng thịt trâu trong nhà ăn đỡ ngán, mà là món ăn lành. Ở miền Bắc, thịt trâu thường thái miếng to, cho vào nồi, dưới lót củ gừng, trên đậy kín lá chuối tươi, đun nhỏ lửa, đun lâu cũng được, không sợ cháy. Sau đó đem treo miếng thịt lên chạn bát, lúc nào ăn thì thái, có thể để đến rằm tháng giêng cũng không bị ôi. Miếng thịt thái ra khô, ăn ngọt đậm, rất ngon, lại không ngán.

 

Ở Nam Bộ thì “ăn tươi nuốt sống” hơn, không cần phải chế biến cầu kỳ. Thịt trâu hầm sả, nấu lẩu hoặc lựa miếng thịt thật ngon, mềm, đem luộc rồi thái mỏng, ăn kèm với rau thơm, chuối chát, khế, chấm mẻ là món “đưa cay” tuyệt không thứ nào bằng. Ngày trước, có người được chia thịt trâu nhiều quá, để dành bằng cách cột miếng thịt vào cọc cây chỗ dòng nước trong ở sông, ở ao hồ, vài ba tuần lễ mang thịt lên vẫn còn tươi rói.

 

Vùng Tây Nguyên, đồng bào các dân tộc ít người có lễ hội đâm trâu. Đêm lửa bập bùng, rượu cần chuếnh choáng, những điệu múa tung gấu váy các cô và phất phơ manh khố trai làng… Hội đâm trâu được diễn ra như một nghi thức tôn giáo thiêng liêng, một ngày hội tưng bừng, say sưa thôi thúc lòng người. Có lẽ đâm trâu là tàn dư trực tiếp của đời sống nguyên thủy, con trâu là con vật hiến tế, là sợi dây nối trời với đất, nối thần với người?.

Một thời, nhiều nhà khoa học nói sữa trâu có giá trị dinh dưỡng cao và cung cấp nhiều năng lượng không thua sữa bò vì chứa nhiều protein và mỡ. Có lúc nước ta đã nhập về vài trăm con trâu sữa Mura tốt của Ấn Độ, nuôi thử ở một số địa phương, nhưng chưa thành công, nên không phát triển nữa.

Nói tới ăn thịt trâu, tôi bỗng nhớ câu đồng dao, thuộc từ hồi nhỏ:

Con trâu ăn cỏ đất bằng, uống nước bờ ao

Hồi nào mày sống, mày ở với tao

Bây giờ mày chết, tao cầm dao xẻ mày

Thịt mày tao nấu linh binh

Da mày bịt trống vô chùa tụng kinh

Sừng mày tao tiện con cờ

Cán dao, cán mác, lược dày, lược thưa…

Thật thương hết sức! Không bộ phận nào của con trâu là không quý. Sừng trâu là khí giới, nhưng hầu như suốt đời trâu ít dùng đến, chỉ khi vĩnh biệt con người, nó mới hóa thân thành chiếc tù và, thành cái kim để đan, để vá lưới; để thành con cờ, cán dao, cán mác, lược dày, lược thưa…

 

Thuở xa xưa, hằng năm cứ đến 30 Tết, nông dân ta mở hội rước trâu xuân cho mùa màng tươi tốt. Đi đầu đám rước là những  hàng cờ ngũ sắc tung bay trong gió, tiếp đến một chiếc trống cái hai người khiêng, người đánh trống mỗi lần vụt dùi lại khua lên cho giải lụa đào bay lượn. Mô hình anh chàng “đầu cơ nghiệp” được gắn một đóa hoa đẹp. Một chú bé để tóc trái đào, mặc áo lụa màu lá mạ, tay cầm roi tre. Đám rước cứ đi vài bước, trống cái lại điểm… tùng! Mục đồng theo nhịp trống vụt nhẹ roi lên lưng trâu, lập tức đám đông người đi xem rước trâu reo vui át cả tiếng pháo xuân.

Ngày nay, ở làng tranh Đông Hồ còn lưu lại bản khắc nhiều tranh về trâu. Nhưng được nhiều người ưa thích nhất là bức vẽ chú mục đồng ngồi lưng trâu hồn nhiên thổi sáo, trên đầu che chiếc lá sen trông ngộ nghĩnh và đáng yêu...

Minh Hải

 

Bookmark and Share  Am thuc khach san Tạo trang in   Am thuc khach san Về đầu trang
Bài viết cùng chủ đề Vấn đề & Sự kiện
Bạn đã bình luận thành công, nếu bình luận của bạn hợp lệ chúng sẽ đăng lên. Xin cảm ơn
Các tin khác :
Quang cao
Quang cao