khach san trong khach san Chuyện làng nước
Thứ năm, 23/02/2012

Trò chơi ngày xuân

Thứ tư, 25/01/2012

Atks.vn - Thường những dịp nghỉ ngơi, giải trí của người Việt Nam đến vào mùa xuân. Đây là lúc các làng quê mở hội mừng xuân mới. Có làng mở hội vào tháng giêng, tháng hai, có làng mở hội trong tháng ba. Tại sao dân ta lại mở hội vào mùa xuân? Trước hết là để mừng xuân, mừng một năm mới bắt đầu, nhưng chính là ra giêng hai còn chưa bận bịu đến đồng áng, mùa màng.

Xin giới thiệu một vài trò chơi dân gian trong dịp xuân về, nhất là ở nông thôn miền Bắc. Những trò chơi này hiện nay không còn nhiều hoặc đã mất.

Thi thổi cơm

Làng Từ Trọng (Thanh Hóa) có đền thờ ông Lê Phụng Hiểu - một danh tướng thời Lý. Hội đền hằng năm mở từ 30 đến mồng 7 Tết. Ngoài các lễ thông thường, hội còn tổ chức thi thổi cơm, thi đồ xôi, thi làm bánh.
Cuộc thi thổi cơm bắt đầu từ sáng tinh mơ. Dọc theo bờ đầm Giang Đình, dân làng đã neo hàng trăm chiếc thuyền nan không mui, có cạp thêm hai mái chèo. Các cô gái dự thi phải thực hiện cuộc thi trên các thuyền nan này và bơi giữa một đầm nước rộng, nghĩa là ở ngay ngoài trời, trên mặt nước lộng gió. Hơn nữa, nồi nấu cơm do ban giám khảo phân phát và phải đun bằng bã mía tươi.

Sau hồi trống lệnh đầu tiên, mỗi cô gái bước lên một thuyền có mang theo hai bộ đầu rau (ông táo) hoặc hai chiếc kiềng ba chân để bắc hai bếp, một bếp đồ xôi, một bếp thổi cơm cùng với những vật liệu cần thiết mà ban giám khảo giao cho. Các cô chèo thuyền ra giữa đầm, bắc bếp, đặt nồi, vo gạo, chờ… Hồi trống thứ hai thì cuộc thi bắt đầu. Trống dứt, các cô gái mới được nhóm lửa, nhóm cả hai bếp để vừa đồ xôi, vừa thổi cơm. Khó khăn đối với người thi là vừa phải nhóm bếp vừa phải giữ cho thuyền khỏi tròng trành giữa mặt đầm luôn lộng gió. Nếu lại gặp bữa mưa phùn thì cuộc thi sẽ càng khó khăn hơn.

Ở làng Chuông (nay thuộc Hà Nội), hội thổi cơm thi lại có nét riêng. Mỗi cô gái dự cuộc thi phải vừa thổi cơm vừa bế một con nhỏ chừng 5-7 tháng, vừa chăn một con cóc, giữ sao cho cóc chỉ nhảy trong vòng vôi.

Thả chim bồ câu

Hằng năm, vào xuân, khi thời tiết bắt đầu ấm áp, nhiều làng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nhất là vùng Kinh Bắc xưa thường mở hội thi thả chim bồ câu. Đây là một trò chơi dân gian lành mạnh, nhẹ nhàng, một thú vui tao nhã được nhiều người ưa thích.

Nơi thả chim là những bãi rộng và thoáng, thường là sân đình làng. Đàn chim dự thi phải đủ mười con đã được chủ luyện bay và định hướng rất công phu. Các chủ chim xếp hàng thứ tự, lấy số và lần lượt theo hiệu trống, mở lồng thả chim. Ban chấm thi gồm các cụ được tín nhiệm, chia làm hai trịch nhóm: trịch ngoại và trịch nội. Trịch ngoại ở ngay nơi thả chim, chấm vòng sơ khảo, còn trịch nội ở trong một nhà kín đáo xa hơn, chấm vòng chung khảo. Hai trịch liên lạc với nhau bằng tiếng trống.

Đàn chim phải bay được qua ba tầng: hạ, trung và thượng (tầng không gian được quy ước bằng mắt thường) mà không phạm lỗi. Đàn chim càng lên cao càng bốc nhanh, nhưng phải bay chụm vào nhau, trước còn to, sau nhỏ dần, lên đến tầng thượng thì nhìn chỉ bằng miệng chén. Ở dưới trông lên không thấy cánh vỗ là được

Bồ câu là giống chim hiền lành, vẫn được loài người gọi là “nghĩa điểu”, sống theo bầy đàn, có khả năng định hướng cao và có tính đồng đội (không bỏ đàn) trong khi bay. Con người dựa vào những đặc tính ấy để nghĩ ra trò chơi lành mạnh này. Truyền thuyết ở làng Đình Bảng (Bắc Ninh) kể rằng: Thái tử nhà Lý rất thích nuôi chim nhưng chim gì thả ra cũng bay mất, chỉ riêng bồ câu là vẫn quay về chuồng và gắn bó với người. Thái tử bèn luyện cho chim bay đàn và từ đó dân làng này có hội thi thả chim bổ câu.

Đánh đu

Rún đu (đánh đu) là một thú say mê của trai gái đồng quê ngày trước, cũng như hát đối đáp vậy. Tại hầu hết các hội hè ở đồng bằng sông Hồng, nhất là dịp xuân về, bao giờ cũng có cây đu cho trai gái vui xuân.

Đu thường dựng trên một thửa đất cạnh đình làng hoặc một khoảng sân, thửa ruộng rộng. Gần tới lễ Tất niên, các cụ trong làng phân công những chàng trai khỏe mạnh đi tìm đẵn những cây tre đực thật thẳng, đủ chịu đựng sức rún đu của từng cặp, có khi một trai một gái, có khi hai gái, hoặc hai trai.

Cây đu dựng bằng tám cột tre, gioãng ra hai phía, mỗi bên bốn cột, đứng sừng sững. Chỗ ngọn đu, tám cột lồng vào nhau bởi một cái ngáng đu, lại còn được vặn rơm bện nên rất chắc chắn. Bàn đu lơ lững thòng xuống, được giữ bỡi hai thân tre khác treo từ ngọn đu. Đỉnh ngọn đu bao giờ cũng có mấy lá cờ đuôi nheo, biểu hiện cho hội hè, đình đám mùa xuân.

Ngày khai hội, trai gái trong làng thả sức đu, người trước kẻ sau, quần áo, nhất là dây lưng (rất nhiều màu) lả lướt trước gió. Trên đu, một cặp càng rướn, đu càng lên bổng, càng thấy thú vị, trong khi ở dưới đất, chung quanh tám cột đu, những chàng trai, cô gái ngước nhìn, chờ tới lượt mình. Khi một cặp đánh đu thôi rướn, họ cùng nhau ôm chặt lấy đôi gióng tre của cần đu để từ từ hạ thấp và không bị đưa mạnh nữa. Một người chạy ra bắt lấy đu. Cặp trên đu bước xuống, cặp khác lên thay.

Ca dao có câu:
Rún mình như thể rún đu
Càng rún càng dẻo, càng đu càng mềm

Bắt chạch trong chum

Trong tâm thức nhiều người lớn tuổi, hẳn còn nhớ đến ngày hội Dưng nổi tiếng của phủ Vĩnh Tường xưa, nay thuộc Vĩnh Yên, với cuộc thi bắt chạch trong chum. Điều này được ghi trong kho tàng tục ngữ, ca dao:

Bỏ con bỏ cháu, không ai bỏ mồng sáu hội Dưng.

Vào ngày mồng 6 tháng giêng, sau nghi thức tế lễ trong đình, lệ làng năm nào cũng có tục bắt chạch trong chum.

Hôm trước hội, tại sân đình, người ta đã đặt sẵn một hàng chum. Mỗi chum được đổ tới hai phần ba nước và thả vào đó một con cá chạch. Vào ngày hội, khi tế lễ xong, ba hồi chín tiếng trống nổi lên giòn giã, ấy là cuộc thi bắt đầu.

Từng đôi trai gái ghi tên dự thi từ trước, sóng đôi tề tựu trước cửa đình. Trai mặc áo cộc lụa màu mỡ gà, thắt lưng đỏ hay xanh bỏ múi cạnh sườn, quần đỏ hoặc vàng. Nữ áo cánh trắng hay hồng nhạt, yếm đỏ, áo tứ thân, bao xanh, đỏ, thắt lưng tím hoa sim với bộ dây xà tích bạc óng ánh. Họ cùng nhau bước vào đình bái lạy thánh. Sau đó quay ra chào các bô lão, chức dịch ngồi trên thềm đình chấm thi, cùng dân làng dự hội đang háo hức đón chờ. Sau đó, cặp trai gái vừa đi vừa múa hát, mặt đối mặt tiến về phía chum. Đến nơi, mỗi người phải đưa một tay ra ôm nhau, còn tay kìa thò vào chum bắt chạch. Điều kiện bắt buộc là gái ôm ngang lưng trai, còn trai phải ôm ngang ngực gái, mắt nhìn nhau và cùng bắt chạch. Trong khi bắt, hai người không được nhìn xuống chum nước, bàn tay người con trai phải luôn trên ngực người con gái. Nếu mải bắt chạch mà quên là bị mất điểm.

Cứ như vậy, cả hai khoắng tay cho đến bao giờ bắt được chạch. Chạch trơn nên luôn chạy thoát, thành ra đôi trai gái chỉ bắt được tay nhau. Dân làng đứng xung quanh hò reo cổ vũ và trêu đùa các đôi, nhắc nhở đôi nào mải bắt trạch mà quên… ngực. Tiếng người nói cười, tiếng trống náo động. Nếu bắt được chạch, cả hai cùng giơ cao lên để mọi người xem, tiếng reo hò vang dậy. Đôi trai gái tiến về phía thềm đình lãnh thưởng. Phần thưởng rất nhỏ (chỉ là một vài hào hay quả cau, miếng trầu), nhưng người ta tin rằng năm đó dân làng sẽ gặp nhiều may mắn.

Minh Hải

Bookmark and Share  Am thuc khach san Tạo trang in   Am thuc khach san Về đầu trang
Bài viết cùng chủ đề Chuyện làng nước
Bạn đã bình luận thành công, nếu bình luận của bạn hợp lệ chúng sẽ đăng lên. Xin cảm ơn
Các tin khác :