khach san trong khach san Chuyện làng nước
Thứ hai, 21/05/2012

Rượu làng Chuồn

Thứ sáu, 20/06/2008

Rượu làng Chuồn có từ lâu đời, xưa nay vẫn được xếp vào loại “đệ nhất danh tửu” của đất thần kinh. Khách về thăm Huế, trong những khi thù tạc trước đây, người Huế vẫn thường đem loại rượu này mời khách.

Tên làng Chuồn là cách nói tiếng Nôm của làng An Truyền, một ngôi làng cổ có lịch sử hơn 600 năm. Làng cách Huế chừng khoảng 10km theo hướng Đông Nam, gần phá Tam Giang. Làng nổi tiếng với hai nghề truyền thống là nấu rượu và bánh tét. Vì thế, đến thăm làng, khắp thôn xóm đều thơm mùi củi đuốc. Ấn tượng nhất là ngôi đình làng được xây dựng từ khi lập làng, sau mấy trăm năm được tôn tạo, tu sửa đình vẫn giữ được nét trang nghiêm bề thế với lối kiến trúc triều Nguyễn, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa của quốc gia.

Không hiểu sao, tôm cá vùng này cũng nổi tiếng là thơm ngon, có người nói nhờ vào nguồn nước thổ nhưỡng và địa hình của làng với nhiều ao, hồ gần đầm phá. Có thể điều đó cũng lý giải được một phần vì sao rượu làng Chuồn có hương vị đặc trưng, không lẫn vào đâu được giữa cơ man các loại rượu dân gian khắp Huế.

Hiện nay, làng An Truyền có gần 300 người làm nghề nấu rượu với hơn 100 lò rượu gia đình suốt ngày đêm đỏ lửa. Không khí của xóm nấu rượu gần đình làng cũng không hề yên tĩnh, mùi rượu cứ thoang thoảng ra tận đầu ngõ. Đến thăm các lò rượu mới thấy rằng để có một mẻ rượu ngon, người làng Chuồn đã dồn biết bao công khó, cần mẫn làm lụng và nhất là cái tâm của người làm nghề được tiếp truyền giáo dưỡng từ bao thế hệ truyền lại. Không nói ra nhưng ai cũng ngầm hiểu cần phải giữ cái “thương hiệu” của làng nghề.

Công đoạn chế biến thường phải mất tới 5 - 6 ngày. Cơm chín đem phơi trước khi ủ với men cũng mất 3 ngày. Cái công đoạn rải và phơi cơm cũng được chăm chút cẩn thận, cơm phải rải rời ra từng hạt và đều. Giải thích vì sao mà rượu làng Chuồn có hương vị khá riêng như vậy, cụ Nguyễn Văn Rạng, năm nay đã 72 tuổi, gia đình trải qua 3, 4 đời làm nghề nấu rượu cho biết: “Thứ nhất là nhờ nguồn nước tại làng. Rượu ngon phải biết cách chọn gạo, phải là gạo thơm. Thật ra, ngày trước người làng Chuồn làm rượu bằng loại gạo lức đỏ đầy cám nhưng vì hoàn cảnh và điều kiện càng ngày loại gạo này trở nên khan hiếm và đắt nên phải thay thế, chế biến thì không thể làm ẩu được mà phải đúng quy trình và đảm bảo chất lượng”. Bác Rạng nhớ lại: “Những năm sau giải phóng, cả nước thiếu gạo nhiều nơi khác thay bằng sắn (khoai mì) hoặc mía, thậm chí có nơi còn pha thêm cồn, phân urê để tăng nồng độ. Còn người làng Chuồn dứt khoát không làm thế, dĩ nhiên rượu có loại nước nhứt, nước nhì, nước ba... Tùy theo yêu cầu của người tiêu dùng mà đáp ứng”.

Đến thăm các lò rượu bao giờ chủ nhân cũng hữu hảo mời khách bằng chính loại rượu tâm đắc nhất của gia đình, chỉ cần đi một vòng, mỗi nhà mỗi ly, ra về ai cũng ngây ngất. Thực hư thế nào không biết, có người từng “uống rượu khắp thế gian” cứ buột miệng khen rượu làng Chuồn là trong rượu có mùi vị đầm phá...

Nhạc sĩ Văn Cao trong một lần về Huế được anh em văn nghệ cố đô đưa đi chơi suốt đêm trên sông Hương, phá Tam Giang và nhâm nhi rượu làng Chuồn. Trong cảnh sắc khói sương huyền hoặc trên sông nước, nhạc sĩ vẫn với dáng vẻ chậm rãi, từ tốn nhưng không dấu được sự hào hứng khi cầm chén rượu rồi đưa ra nhận xét thật ngắn theo kiểu rất Văn Cao: “Được... Dày!...” Chỉ một cái gật gù, ngắn gọn trong buổi tao ngộ ấy nhưng những người bạn văn Huế đều cảm thấy vui vì dễ gì mà bậc “danh trấn giang hồ” trong việc thẩm định rượu lại “chịu” được cái mùi vị rượu làng Chuồn, trong câu chuyện thỉnh thoảng người nấu rượu vẫn tự hào: “Khó như ông Văn Cao mà còn chấm rượu làng Chuồn, huống chi...” Vâng, chắc chắn trong cuốn sử ký của làng, chuyện này phải được ghi lại một cách trân trọng.

Hồ Sĩ Bình (Theo báo Du lịch)

Bookmark and Share  Am thuc khach san Tạo trang in   Am thuc khach san Về đầu trang
Bài viết cùng chủ đề Chuyện làng nước
Các tin khác :